Du học - nhìn từ Nhật Bản (PHẦN 2 : VẤN ĐỀ)

Trong bài viết trước, có thể thấy vấn đề mang tính cấu trúc của giáo dục hệ đại học tại Nhật Bản đã dẫn đến thực trạng du học sinh trở thành “con gà đẻ trứng vàng” cho không ít trường không thu hút được học sinh trong nước. Bài viết này sẽ làm rõ hơn cách thức các trường này kiếm lời trên nỗi vất vả của du học sinh.

Nhưng trước đó, hãy nhìn sơ bộ về khía cạnh tiền bạc từ phía du học sinh. Học phí cho mỗi năm học tại Nhật vào khoảng 7.000 đến 10.000 USD, kể cả với trường tiếng Nhật và trường đại học hay dạy nghề. Chi phí sinh hoạt cũng sẽ mất khoảng tương tự nếu không muốn sống quá kham khổ.

Để có thể theo đuổi học hành, nhìn chung học sinh không thể làm thêm quá thời gian được luật pháp cho phép là 28h/tuần (trung bình 4h/ngày), với mức lương sau khi trừ thuế khoảng 8-10 USD/giờ. Thu nhập như vậy không thể tự lo cả học phí và sinh hoạt phí.

Để trang trải học phí và chi phí sinh hoạt đắt đỏ, phần lớn du học sinh tìm đến các công việc làm thêm

Trong khi đó, hầu hết du học sinh xuất thân từ các gia đình không mấy dư dả của các nước nghèo, thậm chí đến chi phí ban đầu để du học còn phải vay mượn. Những du học sinh ban đầu có mong muốn học hành tử tế bị đẩy vào thế phải chọn lựa giữa bươn trải để kiếm tiền với học hành. Khi đã buông xuôi việc học, họ bắt đầu trượt dài vào những cái bẫy mà các trường đã giăng sẵn. Còn những người ngay từ đầu đã xác định du học như cách thức để kiếm tiền, trường học đơn giản chỉ là công cụ để có được tư cách lưu trú hợp pháp. Họ lao vào làm quần quật để có được một khoản dư dật sau khi đã đóng tiền học phí - lúc này giống như một thứ thuế phải trả cho nhà trường.

Cho đến khoảng 5, 10 năm trước, đây là tình cảnh phổ biến của du học sinh Trung Quốc. Rồi kinh tế phát triển, người Trung Quốc nhận ra lựa chọn du học không mang lại tương xứng với cái giá phải trả, và du học sinh Trung Quốc chững lại. Thế chỗ cho người Trung Quốc giờ là du học sinh Việt Nam.

Nhìn thấy cơ hội có thể thu hút du học sinh ngay từ khi bước sang Nhật, nhiều trường dạy nghề bắt đầu mở khoa tiếng Nhật hay trường tiếng Nhật trực thuộc. Xu thế này lan rộng ra cả các trường đại học. Với cơ sở vật chất có sẵn, các trường này có lợi thế đáng kể khi lao vào cạnh tranh với các trường tiếng Nhật độc lập, cũng đã tăng như nấm sau mưa trong vài năm trở lại đây và thường có qui mô nhỏ hơn.

Bằng cách làm này, các trường sẽ thu được thêm học phí trong 2 năm học tiếng Nhật và đảm bảo nguồn đầu vào ổn định cho bậc học tiếp theo, kéo dài trong 2 hay 4 năm nữa. Điều kiện chuyển tiếp nội bộ sau khi tốt nghiệp trường tiếng Nhật thường rất dễ dãi, thủ tục đơn giản để níu chân học sinh. Thậm chí, có trường còn ngăn không để học sinh nộp đơn vào trường ngoài bằng cách gây khó dễ khi cấp các giấy tờ chứng nhận cần thiết.

Tầm bằng Đại học tại Nhật có thật sự mở ra tương lai cho các du học sinh?

Một số trường tránh xung đột với các khoá học đã có dành cho học sinh Nhật thì mở khoá dành riêng cho sinh viên du học Nhật Bản. Không ít những khoá học như vậy lại chủ yếu là học… tiếng Nhật. Vậy là một du học sinh thường sẽ học tiếng Nhật chừng 6-9 tháng ở Việt Nam, sang Nhật học 2 năm tại trường tiếng Nhật, sau đó học tiếng 2 năm tại trường trung cấp dạy nghề.

Sau quãng thời gian gần 5 năm học, không có kiến thức chuyên môn gì để có thể làm một công việc tử tế. Ngay cả tiếng Nhật, do không tập trung học ngay từ đầu, thường mất gốc và cho đến khi ra trường vẫn chưa thể đạt trình độ đọc được một quyển sách. Với những du học sinh này, không dễ tìm được việc làm và lựa chọn tiếp theo lại là chuyển tiếp vào học đại học (không ít trường đại học mở rộng chế độ chuyển tiếp để “vợt” học sinh từ các trường trung cấp). Và lại thêm 2 năm đầu óc chỉ lo kiếm tiền đóng học phí. Họ hầu như không còn tâm trí để học hành.

Việc làm thêm đương nhiên là vấn đề quan trọng số một khi du học sinh đã xác định “buông” việc học hành. Do việc làm thêm chỉ sẵn có ở đô thị, các trường ở tỉnh lẻ khát học sinh nghĩ ra cách mở phân hiệu tại trung tâm của những thành phố lớn. Chỉ cần thuê một vài phòng trong một toà nhà gần các khu thương mại sầm uất quanh các ga chính, một trường vô danh bỗng trở nên hấp dẫn trong mắt du học sinh vì tiện kiếm việc, giờ học lại linh động. Việc dạy dỗ chỉ qua loa hình thức, học sinh miễn là có mặt để điểm danh cho đủ số buổi học tối thiểu. Chi phí thấp, lợi nhuận cao, có phân hiệu mà du học sinh nước ngoài chiếm tới 90%.

Những chiêu trò này giúp các trường “hút máu” du học sinh để bù vào phần thất thu vì thiếu học sinh trong nước, nhưng đẩy du học sinh lún sâu vào cái vòng luẩn quẩn: căng mình làm thêm để kiếm đủ tiền trang trải chi phí dẫn tới sức lực bị vắt kiệt, học lực kém, hệ quả là chỉ có thể chọn những trường vô danh có điều kiện nhập học dễ dãi nhưng học phí cao và không có chế độ miễn giảm, và lại phải tiếp tục làm thêm tối ngày để trả học phí, học lực lại càng kém. Những năm tháng du học thực chất trở thành lao động chân tay với mức thù lao tối thiểu, còn kiến thức là thứ xa vời.

Kịch bản đó dù tồi tệ nhưng còn lương thiện. Những người không chịu được áp lực cuộc sống ở Nhật có thể văng ra khỏi vòng xoáy đó và rơi vào con đường tội phạm. Trong cộng đồng người Việt, tỷ lệ phạm tội trong du học sinh đứng đầu, cao gấp 3 lần trong thực tập sinh và vượt xa các hình thức visa khác.

Số lượng du học sinh Việt Nam đã tăng vùn vụt lên tới 73 nghìn người vào năm 2019. Bao nhiêu người trong số này rồi sẽ hoàn thành được giấc mơ du học của mình? Số còn lại sẽ có được gì sau du học?

>>> Nguồn: Satoki Tsuyuri

Tìm hiểu thêm các bài viết liên quan:

> Du học - nhìn từ Nhật Bản (Phần 1 - TỔNG QUAN)

> Du học - nhìn từ Nhật Bản (Phần 3 - GIẢI PHÁP)

Viết bình luận
091 858 2233
Click
Link text